Kiểu ruột: tổ ong, gyroid hay lưới
Cập nhật ngày 05/10/2026 · đọc 7 phút
Hai chữ nghe giống nhau mà là hai ô khác hẳn nhau. Độ đặc ruột là bao nhiêu phần trăm nhựa nằm trong lòng bản in. Kiểu ruột là hình của mấy đường nhựa ấy: chúng đi thẳng, đan lưới, cuộn sóng hay xếp thành tổ ong.
Hai ô ấy nhân với nhau. Cùng một mức 25%, mỗi kiểu ruột cho bạn một bộ số gram và số phút khác nhau, và chênh lệch không nhỏ như người ta tưởng.

Chuyện phần trăm thì bài Độ đặc ruột là gì, 15% có rỗng không đã nói hết. Bài này chỉ nói chuyện hình.
Xưởng đang để kiểu nào
Lưới, tên trong Bambu Studio là Grid. Hồ sơ PLA và hồ sơ PETG của xưởng đều khai cùng một giá trị ấy ở ô sparse_infill_pattern, và cùng để độ đặc 25%.
Lưới là hai dãy đường thẳng cắt vuông góc nhau. Wiki Bambu gọi nó là một trong những kiểu đơn giản và nhanh nhất, và đó đúng là lý do nó làm mức mặc định cho mọi đơn.
Một khối hộp, mười hai lượt cắt
Xưởng lấy đúng khối hộp 40 × 40 × 16 mm mà ba bài trước đã dùng, rồi cắt mười hai lượt bằng hồ sơ PLA của xưởng. Mỗi lượt chỉ đổi đúng ô kiểu ruột, mọi ô khác giữ nguyên.
Cả mười hai lượt đều ra đúng 80 lớp, nên không lượt nào lẫn với chuyện độ dày lớp.
Xếp theo số gram, nhẹ nhất lên nặng nhất:
- Lightning, tia chớp: 11,46 g, 31 phút 10 giây
- Adaptive Cubic, lập phương thích ứng: 14,99 g, 32 phút 21 giây
- Gyroid: 16,32 g, 40 phút 06 giây
- Tri-hexagon, lục giác xen tam giác: 16,54 g, 33 phút 31 giây
- Grid, lưới, mức xưởng đang chạy: 16,60 g, 33 phút 50 giây
- Cross Hatch, đan chéo: 16,60 g, 37 phút 19 giây
- Cubic, khối lập phương: 16,64 g, 33 phút 53 giây
- Line, đường rời: 16,68 g, 33 phút 41 giây
- Triangles, tam giác: 16,73 g, 34 phút 01 giây
- Zig zag, gấp khúc: 16,81 g, 33 phút 52 giây
- Concentric, vòng đồng tâm: 16,83 g, 34 phút 00 giây
- Honeycomb, tổ ong: 18,30 g, 45 phút 55 giây
Đọc cả bảng một lượt thì ra một chuyện đáng ngạc nhiên: tám trong mười hai kiểu nằm gọn trong khoảng 16,3 tới 16,9 g, tức chênh nhau chưa tới 4 phần trăm. Chọn giữa lưới, tam giác, gấp khúc hay vòng đồng tâm gần như không đổi số gram.
Chỗ đáng chú ý nằm ở hai đầu bảng.
Tổ ong là kiểu đắt nhất, cả gram lẫn phút
Tổ ong nghe chắc chắn và nhìn đẹp, nên nó là kiểu người mới hay chọn nhất. Nó cũng là kiểu tốn nhất ở cả hai cột.
So với lưới, cùng một khối hộp, cùng 25%:
- Nặng thêm 1,70 g, tức hơn 10 phần trăm
- Lâu thêm 12 phút 05 giây, tức hơn 35 phần trăm
Mười hai phút trên một khối bé bằng nắm tay. Và cái lâu thêm ấy không đi vào chỗ nào bạn nhìn thấy, vì nó nằm sâu trong lòng bản in.
Wiki Bambu ghi tổ ong tốn thêm khoảng 25 phần trăm vật liệu so với các kiểu khác. Trên khối hộp này xưởng đo được 10,2 phần trăm. Hai con số không khớp, và bài để nguyên con số xưởng đo được trên chính máy cắt lớp của mình.
Gyroid đổi phút chứ không đổi gram
Gyroid là kiểu được nhắc tới nhiều nhất trên các diễn đàn, vì nó là một mặt cong lượn đều trong không gian, không có hai đường nào cắt nhau trong cùng một lớp.
Số đo cho thấy cái giá của nó nằm ở đâu:
- Nhẹ hơn lưới 0,28 g, tức gần như bằng nhau
- Lâu hơn lưới 6 phút 16 giây, tức hơn 18 phần trăm
Đường cong thì đầu phun phải đổi hướng liên tục, nên máy chạy chậm hơn dù đi cùng ngần ấy nhựa. Wiki Bambu còn nói thêm hai chuyện: ca cắt lớp lâu hơn và tệp gcode nặng hơn, còn lúc in ở mức đặc cao và tốc độ cao thì máy rung đáng kể.
Gyroid đáng chọn khi bạn cần chắc đều theo mọi hướng. Nếu chỉ cần nhẹ thì nó không phải đường đi.
Nhìn từ cạnh bên thì bốn kiểu khác hẳn nhau
Nhìn một lớp thì chỉ thấy hình trên mặt phẳng. Chiếu mọi đường nhựa của cả ca cắt lên một mặt phẳng đứng thì thấy kiểu nào thật sự là một khối ba chiều.

- Lưới lặp y hệt ở mọi lớp, nên nó dựng thành những cột thẳng đứng chạy suốt thân
- Gyroid đổi hình từng lớp, nên nó đan thành một mạng chéo nhau
- Tổ ong kín tới mức nhìn ngang gần như một mảng đặc, và đó là cái 1,70 g kia đi đâu
- Tia chớp chỉ có nhánh ở phần trên, còn gần hết chiều cao thì trống trơn
Hai kiểu cho người muốn nhẹ
Đây là chỗ bảng số có thứ đáng tiền thật.
Adaptive Cubic, lập phương thích ứng, ra 14,99 g và 32 phút 21 giây. So với lưới là nhẹ hơn 1,61 g và nhanh hơn một phút rưỡi, mà vẫn là một lưới ba chiều đỡ đều khắp bản in. Nó tự thưa dần ở chỗ xa thành và dày lên ở chỗ gần thành.
Lightning, tia chớp, ra 11,46 g và 31 phút 10 giây. Đây là kiểu nhẹ nhất bảng: nhẹ hơn lưới 5,14 g, tức 31 phần trăm.
Nhưng phải biết nó đổi gì lấy chừng ấy. Tia chớp chỉ dựng những nhánh chống ngay dưới mặt nóc, đủ để mặt trên khỏi sụt, còn phần thân thì bỏ trống. Mức đặc bạn đặt chỉ áp cho lớp sát dưới nóc.
Nghĩa là bản in gần như rỗng. Bóp vào là móp. Nó hợp với tượng trưng bày, vỏ hộp không chịu lực, mẫu thử cỡ lắp ghép. Nó không hợp với bất cứ thứ gì phải chịu lực.
Ô ấy nằm đâu trong Bambu Studio

- Mở Bambu Studio, ở chế độ Prepare
- Cột bên trái, kéo xuống bảng Process
- Bấm thẻ Strength
- Kéo xuống nhóm Sparse infill
- Ô thứ nhất là Sparse infill density, tức độ đặc ruột. Ô thứ ba là Sparse infill pattern, tức kiểu ruột, và đó là ô bài này đang nói
Hai ô ấy ngồi cạnh nhau, và đó cũng là lý do người ta hay nhầm chúng với nhau.
Cùng thẻ ấy, nhóm Top/bottom shells ngay phía trên có hai ô Top surface pattern và Bottom surface pattern. Hai ô đó không phải ô này. Chúng khai hình của mặt trên và mặt dưới, tức phần đặc bạn nhìn thấy, chứ không khai hình của phần ruột thưa.
Một chuyện nhỏ hay làm người mới mắc
Không phải kiểu nào cũng đổ được 100%. Wiki Bambu liệt kê đúng sáu kiểu làm được chuyện ấy: vòng đồng tâm, hai kiểu đường thẳng, đường Hilbert, cung Archimedes và xoắn bát giác. Tổ ong và gyroid không có trong đó.
Đặt độ đặc 100% với một kiểu không nằm trong sáu kiểu ấy thì máy cắt lớp vẫn chạy, nhưng nó tự đổi cách đổ, và bản in ra không đặc như bạn tưởng.
Khách đặt in ở xưởng thì chỉnh ở đâu
Ô này không có trên màn đặt in. Màn ấy cho bạn đổi đúng bốn thứ: tỉ lệ, số lượng, độ dày lớp và độ đặc ruột. Kiểu ruột thuộc hồ sơ xưởng và chạy Grid cho mọi đơn.
Bản in của bạn cần khác đi thì nhắn Zalo trước khi đặt. Hai trường hợp đáng nhắn:
- Tượng trưng bày, vỏ che, mẫu thử không chịu lực: xin đổi sang tia chớp, bản in nhẹ đi khoảng ba phần mười số gram nhựa
- Chi tiết phải chịu lực xoắn hay lực kéo ngang: xin đổi sang lục giác xen tam giác, cùng gram và cùng phút với lưới mà wiki Bambu xếp nó vào nhóm chịu kéo tốt nhất
Còn lại thì cứ để nguyên. Tám trong mười hai kiểu chênh nhau chưa tới 4 phần trăm gram, nên đổi kiểu cho một bản in bình thường là đổi một thứ không ai đo được.
Đọc tiếp
Bao nhiêu phần trăm thì đủ, đọc bài Độ đặc ruột là gì, 15% có rỗng không.
Ô này đứng cạnh hai ô nào và ô nào đổi tiền nhiều nhất, đọc bài Ba thông số kéo nhau: lớp, ruột và vỏ.
Toàn bộ thông số xưởng đang chạy, đọc bài Hồ sơ cắt lớp xưởng đang chạy. Số gram với số phút quy ra tiền ra sao, đọc bài Cách tính giá in 3D, công thức và ví dụ thật.
Bài liên quan
- Độ đặc ruột là gì, 15% có rỗng không
Bên trong bản in 3D không đặc mà cũng không rỗng hẳn. Bài này mổ một khối hộp ở bốn mức 0, 15, 50 và 100 phần trăm rồi cân từng mức.
Thuật ngữ
- Ba thông số kéo nhau: lớp, ruột và vỏ
Hạ độ dày lớp cho đẹp thì tốn phút, nâng độ đặc ruột cho chắc thì tốn gram. Xưởng cắt một khối hộp chín lượt để xem mỗi ô đáng bao nhiêu tiền.
Thông số in
- Hồ sơ cắt lớp xưởng đang chạy
Bộ thông số thật của máy Bambu H2S xưởng dùng mỗi ngày: nhiệt, độ đặc ruột, số vòng thành, viền chân bám. Kèm lý do từng con số.
Thông số in